Commvault Commvault-Restore

Commvault-Restore
I. Lý thuyết

1. In-place Restore vs Out-of-place Restore

  • In-place Restore (Phục hồi về vị trí gốc): Khôi phục dữ liệu về chính xác máy chủ, đường dẫn hoặc hạ tầng ban đầu nơi dữ liệu được sao lưu.
    • Ứng dụng: Dùng khi hệ thống gốc bị sự cố (xóa nhầm, hỏng tập tin, lỗi ứng dụng) và cần đưa dữ liệu về trạng thái trước đó.
    • Lưu ý: Thường có tùy chọn ghi đè (Overwrite) hoặc chỉ khôi phục các tập tin chưa tồn tại (Skip if exists).
  • Out-of-place Restore (Phục hồi sang vị trí khác): Khôi phục dữ liệu sang một thư mục khác, máy chủ khác, đĩa cứng khác hoặc hạ tầng ảo hóa khác.
    • Ứng dụng: Dùng khi cần kiểm tra/kiểm thử dữ liệu backup, phục hồi môi trường Staging/Dev, hoặc khôi phục sang hạ tầng mới sau sự cố toàn bộ trung tâm dữ liệu.
    • Ưu điểm: Tách biệt hoàn toàn với môi trường Production, không lo rủi ro ghi đè dữ liệu đang chạy.

2. Browse & Restore vs Recovery

  • Browse & Restore: Quá trình duyệt cây thư mục (metadata/index) của bản sao lưu tại một thời điểm cụ thể, chọn chính xác từng file, folder hoặc đối tượng (mailbox, database table) cần phục hồi.
    • Cơ chế: Commvault tra cứu Index Server để hiển thị cấu trúc file hệ thống mà không cần khôi phục toàn bộ khối dữ liệu lớn.
    • Trường hợp không bật Indexing sẵn, Commvault sử dụng Live Browse: tự động mount ngầm bản sao lưu từ Backup Storage vào MediaAgent để duyệt file.
  • Recovery (Full Recovery / Disaster Recovery): Khôi phục toàn bộ cấu trúc hệ thống, toàn bộ máy ảo (VM) hoặc toàn bộ cơ sở dữ liệu về trạng thái hoạt động (State).

2.1. Phân biệt

Browse & Restore (Khái niệm tổng quát)

  • Là quy trình/thao tác chung trên GUI của Commvault: Bạn nhấp chuột phải vào Subclient chọn Browse and Restore để bắt đầu duyệt tìm và khôi phục dữ liệu.
  • Khi bạn bấm Browse & Restore, Commvault sẽ cho bạn chọn cách thức duyệt dữ liệu:
    1. Duyệt qua Index (Chỉ mục đã lưu trước đó).
    2. Hoặc duyệt qua Live Browse (Mount trực tiếp từ Storage).

Live Browse

  • Là công nghệ đọc dữ liệu trực tiếp mà Commvault sử dụng khi bạn thực hiện thao tác Browse & Restore đối với các bản sao lưu không có sẵn Index chi tiết từng file (ví dụ: Backup nguyên bản máy ảo VM).
  • Cách vận hành: Thay vì phải chờ Commvault thu thập danh sách hàng triệu file trong quá trình backup (làm chậm quá trình backup VM), Live Browse sẽ mount ngầm (gắn tạm) bản snapshot/backup của VM vào MediaAgent, đọc cấu trúc file system bên trong đó ngay tại thời điểm bạn bấm nút Browse.

3. Point-in-Time Restore

Point-in-Time Restore cho phép khôi phục dữ liệu về chính xác một mốc thời gian cụ thể trong quá khứ (ví dụ: 10:15:30 AM ngày 10/08), thay vì chỉ phục hồi mốc thời gian hoàn tất bản backup.
  • Hoạt động với Database: Kết hợp bản Full Backup, Differential Backup và chuỗi Transaction Log / Redo Log. Commvault sẽ restore bản Full/Diff gần nhất, sau đó apply các log ghi nhận giao dịch cho đến đúng mốc giờ được yêu cầu.
  • Hoạt động với VM / File System: Dựa vào các snapshot theo lịch và chỉ số index để dựng lại trạng thái cây dữ liệu tại thời điểm chỉ định.
  • Tác dụng: Giảm thiểu tối đa lượng dữ liệu bị mất (RPO), đặc biệt hữu ích khi xử lý sự cố nhiễm Ransomware hoặc lỗi dữ liệu do con người thao tác sai tại một mốc giờ biết trước.

So sánh Restore: Commvault vs Veeam

1. File-Level Restore (FLR)

  • Commvault:
    • Sử dụng cơ chế Indexing (Block-level indexing / Live Browse). Khi backup VM, Commvault tạo index tập tin để cho phép tìm kiếm và khôi phục từng file trực tiếp từ giao diện Admin Console.
    • Trường hợp không bật Indexing sẵn, Commvault sử dụng Live Browse: tự động mount ngầm bản sao lưu từ Backup Storage vào MediaAgent để duyệt file.
    • Phù hợp cho môi trường Enterprise quy mô cực lớn nhờ tính năng Index lưu trữ tập trung.
  • Veeam Backup & Replication:
    • Sử dụng Veeam Explorer kết hợp với công nghệ vPower NFS.
    • Khi yêu cầu FLR, Veeam mount trực tiếp file nén/mã hóa (.vbr/.vbk) từ Backup Repository thành một ổ đĩa ảo tạm thời trên Mount Server (vd: Veeam Server) mà không cần giải nén toàn bộ VM.
    • Thao tác bật công cụ khôi phục cực kỳ nhanh, giao diện trực quan cho cả Windows, Linux

2. Instant Recovery

  • Commvault (Live Mount / Instant Recovery):
    • Hỗ trợ tạo ngay một máy ảo chạy trực tiếp từ lưu trữ backup (Backup MediaAgent đóng vai trò NFS/SMB Data Store cho Hypervisor).
    • Mọi dữ liệu ghi mới (Write IO) trong quá trình chạy tạm sẽ được lưu vào một datastore trung gian.
    • Cho phép tiến hành khôi phục ngầm dữ liệu về Storage chính thức (Production Datastore) thông qua cơ chế Storage vMotion / Storage Migration mà không làm gián đoạn VM đang khôi phục.
  • Veeam (Instant VM Recovery - IVMR):
    • Là công nghệ tiên phong của Veeam dựa trên vPower NFS Engine.
    • Mount trực tiếp khối dữ liệu backup đén ESXi/Hyper-V và khởi động VM chỉ trong vài giây đến vài phút, bất kể kích thước VM lớn thế nào.
    • Sử dụng Quick Migration để chuyển dữ liệu từ lưu trữ backup về Storage sản xuất một cách mượt mà trong lúc VM vẫn đang bật phục vụ người dùng.
II. Thực hành

1. Restore nguyên bản một file/thư mục (Restore to original)


Vào Client Computers > chọn [Tên máy Client] > File System > defaultBackupSet.

Click chuột phải vào Subclient (ví dụ: default) > Chọn Browse and Restore.
1786555882205.png

Để mặc định Latest Backup > Click View Content.
1786556050051.png

Chọn dữ liệu: Trong cửa sổ Browse, tích chọn các File hoặc Folder cần restore > Click Restore All Selected.
1786556063484.png

Restore

  • Overwrite Files (Đang tích): Cho phép ghi đè lên các file đã tồn tại ở nơi khôi phục.
    • Overwrite if file in backup is newer (Đang chọn): Chỉ ghi đè nếu bản sao lưu mới hơn file hiện có trên đĩa.
    • Unconditionally Overwrite: Ghi đè vô điều kiện lên mọi file trùng tên, bất kể file nào mới/cũ hơn.
    • Restore only if target exists: Chỉ khôi phục những file đã có sẵn ở nơi nhận (để cập nhật), nếu file chưa từng tồn tại ở nơi nhận thì sẽ bỏ qua không restore.
  • Recreate Mount Points (Đang tích): Tự động tái tạo lại các điểm gắn ổ đĩa (Mount Points/Volume Junctions) nếu dữ liệu backup có chứa các liên kết này.
  • Destination client: Máy chủ mục tiêu nhận dữ liệu restore
  • Number of streams: Số lượng luồng dữ liệu song song dùng để restore. Số stream càng cao thì tốc độ khôi phục càng nhanh (nếu phần cứng và băng thông mạng đáp ứng đủ).
  • Restore to same folder (In-place Restore): Khôi phục đúng về đường dẫn thư mục ban đầu trên máy mục tiêu.
1786556094865.png

2. Restore ra vị trí khác (out-of-place)

Preserve Source Paths

Đây là phần quan trọng nhất giúp quyết định cấu trúc thư mục sau khi restore

Giả sử đường dẫn file gốc lúc bạn backup là: /data/documents/reports/file.pdf
  • Preserve 1 level from end of the source path
    • Chiều đếm: Từ cuối đường dẫn tính ngược về đầu
    • Con số 1: Giữ lại 1 cấp thư mục chứa file (là thư mục reports).
    • Kết quả thực tế trên máy đích: /home/vsa/reports/file.pdf. (Nếu bạn đặt = 0, toàn bộ các cấp thư mục cha bị loại bỏ, kết quả là : /home/vsa/file.pdf).
  • Remove 2 level from beginning of the source path
    • Chiều đếm: Từ đầu đường dẫn đếm đến phần cuối
    • Con số 2: Bỏ đi 2 cấp thư mục đầu tiên (bỏ /data và /documents).
    • Kết quả:/home/vsa/reports/file.pdf.

Nhóm Impersonate User

Quyền ghi khi restore là quyền của Agent trên các Destination Client
  • Impersonate User: Dùng khi bạn restore dữ liệu lên một network share (NAS, Samba share...) hoặc một thư mục đặc biệt trên Linux/Windows mà tài khoản Agent mặc định không có quyền ghi.
  • Khi tích chọn, bạn điền User Name và Password của tài khoản Admin/User có quyền ghi vào thư mục /home/vsa để Commvault mượn quyền chạy tiến trình copy
1786556165044.png

3. Live Browser
Chọn VM > Browse and Restore.
1786556182401.png

Guest Files and Folders (Khôi phục file/folder lẻ bên trong máy ảo) > View Content
1786556200344.png

1786556214054.png

1786556220442.png
 
Back
Top