MỤC LỤC
1. Nền tảng lưu trữ trong vSphere2. Những khái niệm cần phân biệt
3. Fibre Channel và đường đi SAN
4. iSCSI qua mạng IP
5. VMFS Datastore
6. NFS Datastore
7. Thiết kế hiệu năng và tính sẵn sàng
8. Theo dõi, mở rộng và xử lý sự cố
9. Kết luận
1. Nền tảng lưu trữ trong vSphere
ESXi cần nơi lưu file cấu hình, đĩa ảo, snapshot và các file phụ của VM. vSphere gọi vùng lưu trữ được đưa vào Inventory là datastore. Một datastore có thể nằm trên ổ cục bộ, thiết bị block được trình bày qua Fibre Channel hoặc iSCSI, hay thư mục được export qua NFS.Ứng dụng trong VM -> Guest OS -> VMDK -> VMFS hoặc NFS Datastore
-> thiết bị lưu trữ -> đĩa vật lý
Datastore là đơn vị quản trị mà ESXi nhìn thấy; bản thân datastore không nói lên giao thức bên dưới. Cùng là VMDK, nhưng một VM có thể nằm trên VMFS/iSCSI, VMFS/FC hoặc NFS. Khi chẩn đoán độ trễ, phải lần theo cả đường đi này.
1.1 Lưu trữ cục bộ và lưu trữ dùng chung
Loại | Cách hoạt động | Tác động vận hành |
Local | Ổ đĩa hoặc controller gắn trực tiếp với một ESXi. | Dễ triển khai; host khác không tự thấy file VM. |
Shared block | Nhiều host nhìn thấy cùng LUN qua FC hoặc iSCSI. | Thường định dạng VMFS để dùng chung có kiểm soát. |
Shared file | Nhiều host mount cùng NFS export. | NAS quản lý hệ thống file; ESXi dùng NFS datastore. |
Lưu trữ dùng chung hỗ trợ các quy trình di chuyển và khôi phục VM trong cluster, nhưng không tự tạo ra HA. Host, mạng lưu trữ, quyền truy cập, license và cấu hình cluster vẫn phải đáp ứng yêu cầu của từng tính năng.
2. Những khái niệm cần phân biệt
Thuật ngữ | Ý nghĩa | Điểm dễ nhầm |
Device / LUN | Thiết bị block được storage trình bày cho ESXi. | LUN không phải datastore cho đến khi được định dạng hoặc mount phù hợp. |
Volume / Export | Vùng dữ liệu hoặc thư mục được NAS chia sẻ qua NFS. | NFS export không được định dạng VMFS. |
Datastore | Đối tượng vSphere chứa file VM và được ESXi mount. | Một datastore có thể được nhiều host sử dụng. |
Path | Đường từ host qua HBA/NIC, switch đến thiết bị lưu trữ. | Nhiều path không đồng nghĩa nhiều datastore. |
VMDK | Đĩa ảo mà Guest OS sử dụng. | VMDK là file hoặc đối tượng lưu trên datastore, không phải LUN vật lý. |
Multipathing | Cơ chế chọn và chuyển path đến thiết bị block. | Failover path không thay thế backup dữ liệu. |
Một LUN dùng làm VMFS có thể được nhiều host mount đồng thời nhờ cơ chế khóa và metadata của VMFS. Không định dạng lại LUN đã chứa VMFS chỉ vì một host mới vừa phát hiện thiết bị.
3. Fibre Channel và đường đi SAN
Fibre Channel (FC) là mạng SAN chuyên chở giao thức lưu trữ block. ESXi dùng HBA hoặc CNA để kết nối qua FC fabric tới storage array. Storage trình bày LUN cho host; ESXi sau đó có thể tạo hoặc mount VMFS datastore trên LUN đó.ESXi -> FC HBA -> Fabric A/B -> Storage ports -> LUN -> VMFS Datastore
3.1 WWPN, zoning và LUN masking
· WWPN định danh cổng FC của HBA hoặc storage port. Ghi WWPN thực tế trước khi tạo zone.· Zoning trên fabric giới hạn cổng initiator nào nhìn thấy cổng target nào. Thiết kế thường tách hai fabric để giảm điểm lỗi chung.
· LUN masking trên storage quyết định host nào được thấy LUN nào. Zone đúng nhưng masking sai vẫn làm ESXi không thấy thiết bị.
· Sau khi zoning/masking thay đổi, quét lại storage adapter và kiểm tra thiết bị, số path cùng trạng thái path trên từng host.
3.2 Multipathing và sự cố đường truyền
vSphere quản lý nhiều đường đến cùng thiết bị bằng cơ chế multipathing và chính sách chọn path phù hợp với storage array. Round Robin, Fixed hoặc các chính sách khác phải được chọn theo khả năng array và hướng dẫn của nhà cung cấp, không dựa vào tên gọi đơn thuần.Khi một path hỏng, VM có thể vẫn chạy trên path còn lại nhưng độ trễ tăng. Nếu tất cả path tới thiết bị đều không đáp ứng, ESXi có thể ghi nhận APD (All Paths Down); nếu storage xác nhận thiết bị không còn tồn tại, đó là PDL (Permanent Device Loss). Hai tình huống cần quy trình xử lý khác nhau.
4. iSCSI qua mạng IP
iSCSI cũng cung cấp thiết bị block, nhưng truyền qua Ethernet/IP. ESXi là initiator; storage là target. Thiết bị được trình bày thành LUN rồi tạo VMFS tương tự FC. Đừng nhầm iSCSI với NFS: iSCSI cung cấp block, NFS cung cấp file.ESXi VMkernel + iSCSI initiator -> VLAN/storage network -> target -> LUN -> VMFS
4.1 Thành phần và điều kiện kết nối
Thành phần | Vai trò | Kiểm tra |
Software iSCSI adapter | Initiator chạy trong ESXi. | Đã bật và có IQN đúng. |
VMkernel adapter | Giao diện IP cho traffic storage. | IP, VLAN, MTU, uplink và route đúng. |
Target portal | IP hoặc DNS của cổng iSCSI trên storage. | Kết nối TCP 3260 và chính sách firewall phù hợp. |
Discovery | Tìm target/LUN được phép dùng. | Dynamic hoặc static discovery theo thiết kế. |
Authentication | Giới hạn truy cập vào target. | CHAP nếu storage và chính sách yêu cầu. |
4.2 Port binding và multipath
Khi thiết kế nhiều VMkernel và nhiều uplink cho software iSCSI, phải phân biệt mô hình port binding với mô hình dùng nhiều subnet/route. Port binding có các điều kiện về subnet, uplink và switch; áp dụng sai có thể khiến path không hoạt động hoặc failover không đúng. Trước khi cấu hình, chọn một mô hình theo tài liệu của storage array và kiểm tra trên từng ESXi.Tách iSCSI khỏi mạng VM/Management giúp dễ kiểm soát tải và lỗi. Nếu dùng Jumbo Frame, MTU phải thống nhất trên VMkernel, vSwitch/vDS, vmnic, switch vật lý và target. Ping gói nhỏ thành công chưa chứng minh gói lớn đi hết đường.
5. VMFS Datastore
VMFS là hệ thống file cluster của VMware trên thiết bị block. ESXi dùng VMFS để lưu file VM; nhiều host có thể mount cùng một VMFS datastore khi nhìn thấy cùng thiết bị và có đường truy cập phù hợp. Version VMFS phải tương thích với các ESXi host cần dùng.5.1 Tạo VMFS Datastore
1. Trên storage, cấp LUN cho đúng host/cluster bằng zoning, masking hoặc ACL tương ứng.2. Trên mọi ESXi cần dùng, rescan adapter và xác nhận cùng LUN hiện ra với dung lượng, ID và path như dự kiến.
3. Trong vSphere Client, chọn tạo VMFS datastore trên thiết bị mới. Kiểm tra kỹ tên thiết bị, dung lượng và cảnh báo xóa dữ liệu.
4. Chọn phiên bản VMFS và dung lượng theo khả năng tương thích; đặt tên datastore theo site, tier và mục đích.
5. Sau khi tạo trên một host, rescan hoặc mount datastore hiện có trên các host còn lại. Không tạo VMFS mới lần thứ hai trên cùng LUN.
5.2 Quản lý dung lượng và mở rộng
Datastore báo dung lượng theo khối storage cấp phát; VM bên trong còn chịu ảnh hưởng của thin disk, snapshot, swap, log và file backup tạm. Khi dung lượng trống thấp, VM có thể không ghi được dữ liệu dù Guest OS vẫn báo ổ đĩa còn chỗ.· Trước khi tăng dung lượng, xác định storage đã mở rộng đúng LUN và mọi host nhìn thấy kích thước mới.
· Mở rộng VMFS theo thao tác supported của phiên bản đang dùng; xác nhận dung lượng mới trên tất cả host sau rescan.
· Không tháo hoặc xóa datastore khi còn VM, ISO mount, template, snapshot, swap hoặc dịch vụ đang dùng.
· Gỡ datastore khỏi nhiều host theo quy trình unmount/detach có kiểm tra; xóa LUN ở storage chỉ sau khi xác nhận không còn phụ thuộc.
6. NFS Datastore
NFS Datastore là thư mục chia sẻ từ NAS được ESXi mount qua mạng IP. NAS quản lý hệ thống file; ESXi không định dạng VMFS lên NFS export. Một export có thể được nhiều host mount, miễn các host có quyền truy cập và nhìn thấy cùng nội dung.6.1 NFS v3 và NFS v4.1
Đặc điểm | NFS v3 | NFS v4.1 |
Kết nối | Dùng cơ chế NFS v3 và các dịch vụ mạng liên quan. | Dùng phiên bản 4.1 với cơ chế phiên và quản lý state khác. |
Xác thực | Thường theo IP/UID và chính sách NAS. | Có tùy chọn bảo mật khác tùy cấu hình NAS/ESXi. |
Multipathing | Dự phòng phụ thuộc mạng và thiết kế NAS. | Có hỗ trợ nhiều kết nối trong cấu hình phù hợp. |
Tương thích | Phải được NAS cho phép export v3. | Phải được NAS và ESXi hỗ trợ v4.1; không đổi phiên bản tùy tiện. |
Hai phiên bản không phải cùng một mount chỉ đổi nhãn. Chọn phiên bản theo NAS, yêu cầu bảo mật và tính năng vSphere đang dùng; khi đổi phiên bản cần kế hoạch di chuyển datastore và VM.
6.2 Tạo và kiểm tra NFS Datastore
6. Trên NAS, tạo export với đường dẫn ổn định và cho phép các IP VMkernel của ESXi truy cập ở quyền cần thiết.7. Trên ESXi, chuẩn bị VMkernel, VLAN, IP, MTU và uplink storage theo thiết kế; xác nhận tới được NAS.
8. Trong vSphere Client, chọn tạo NFS datastore, nhập phiên bản NFS, địa chỉ NAS, export path và tên datastore.
9. Mount trên từng host cần dùng; xác nhận mọi host thấy cùng datastore, đọc/ghi được và có dung lượng đúng.
10. Nếu mount lỗi, kiểm tra export path chính xác, ACL, phiên bản NFS, firewall, DNS và mạng VMkernel.
Việc NAS ping được không chứng minh NFS hoạt động. Cần kiểm tra export thực sự cho phép ESXi và giao thức/port được thông qua. Không dùng quyền rộng hơn cần thiết trên NAS chỉ để mount thành công.
7. Thiết kế hiệu năng và tính sẵn sàng
Tiêu chí | Câu hỏi thiết kế | Biện pháp kiểm tra |
Dung lượng | VM, snapshot và tăng trưởng sẽ chiếm bao nhiêu? | Theo dõi free space, thin provisioning và cảnh báo. |
Độ trễ | Ứng dụng có chịu được latency của storage không? | Xem datastore latency, array latency và tải từng VM. |
Băng thông | Nhiều VM có chia uplink/HBA không? | Đo throughput, queue và lỗi cổng. |
Dự phòng | Một HBA/NIC, switch hoặc controller hỏng thì sao? | Kiểm tra số path và thử failover có kế hoạch. |
Bảo mật | Host nào được nhìn thấy LUN/export? | Kiểm tra zoning, masking, ACL, CHAP/TLS theo thiết kế. |
Khôi phục | Mất datastore hoặc xóa nhầm VM thì khôi phục từ đâu? | Backup độc lập và thử restore định kỳ. |
Snapshot không thay thế backup: snapshot thường phụ thuộc datastore gốc và có thể tăng nhanh khi VM ghi nhiều. Storage replication cũng cần kế hoạch nhất quán dữ liệu và thử khôi phục, đặc biệt với ứng dụng có cơ sở dữ liệu.
8. Theo dõi, mở rộng và xử lý sự cố
8.1 Kiểm tra thường xuyên
· Theo dõi dung lượng datastore, tốc độ tăng snapshot và cảnh báo gần đầy.· Kiểm tra host nào mount datastore, số path active/dead và lỗi HBA/NIC.
· Đối chiếu độ trễ ở VM, ESXi và storage array trước khi kết luận lỗi do datastore.
· Ghi nhận mọi thay đổi zoning, masking, LUN mapping, NFS export và VLAN/storage network.
8.2 Khoanh vùng lỗi
Hiện tượng | Nguyên nhân thường gặp | Kiểm tra đầu tiên |
Không thấy LUN FC | Zoning, masking, HBA hoặc path. | WWPN, trạng thái fabric, rescan và LUN ID. |
Không thấy LUN iSCSI | VMkernel, discovery, target, CHAP hoặc port binding. | IP/VLAN/MTU, TCP 3260, adapter và path. |
NFS không mount | Sai export, ACL, phiên bản hoặc mạng. | Đường dẫn export và quyền IP của ESXi. |
VM chậm đồng loạt | Storage latency, queue, uplink/HBA quá tải. | Biểu đồ datastore và array theo cùng mốc thời gian. |
Datastore gần đầy | Snapshot, thin disk hoặc VM tăng dữ liệu. | File chiếm chỗ, chính sách backup và dung lượng thực. |
9. Kết luận
FC và iSCSI đưa thiết bị block tới ESXi; VMFS biến thiết bị đó thành datastore dùng chung. NFS cung cấp datastore ở mức file từ NAS. Chọn công nghệ theo hạ tầng sẵn có, yêu cầu ứng dụng và khả năng vận hành; cấu hình đúng đường truy cập, quyền, multipath và backup quan trọng hơn tên giao thức.Bài viết liên quan
Bài viết mới