VanTai
Intern
1. Tổng quan
Bài lab này dựa trên phần LÝ THUYẾT thành thao tác cụ thể trên Web GUI và CLI. Nội dung chính bao gồm: tạo/bật VLAN-aware cho bridge, gán VLAN cho VM, tạo bond gộp hai NIC làm uplink, kiểm chứng bằng ping và các lệnh trạng thái.Trong môi trường lab (Proxmox chạy nested trên VM do CloudStack và vCenter cấp), số NIC ảo có thể hạn chế. Vì vậy bài lab nêu rõ phương án khi chỉ có 1 NIC (làm bridge internal, VLAN nội bộ) và phương án đầy đủ khi có từ 2 NIC trở lên (bond + trunk VLAN).
Khuyến nghị thực hiện tuần tự và luôn mở sẵn console ảo của node phòng khi mất kết nối SSH/Web trong lúc đổi mạng.
Mục tiêu của bài này:
- Bật VLAN-aware trên vmbr và gán VLAN Tag cho VM.
- Tạo interface VLAN cho chính host (mạng tách riêng).
- Tạo bond (active-backup hoặc LACP) làm uplink cho bridge.
- Kiểm chứng cấu hình bằng ping và lệnh trạng thái.
2. Nội dung chính
2.1 Chuẩn bị và ảnh chụp hiện trạng
Trước khi thay đổi, ghi lại hiện trạng mạng để có thể so sánh và khôi phục nếu cần.cp /etc/network/interfaces /root/interfaces.bak.$(date +%F)
ip -br a
ip -br link
Sao lưu cấu hình mạng và xem hiện trạng.
Hình 1: Bảng interface ban đầu: NIC vật lý và vmbr0 mặc định.
Hình 1: Bảng interface ban đầu: NIC vật lý và vmbr0 mặc định.
2.2 Bật VLAN-aware cho vmbr0
Vào Node > System > Network, chọn vmbr0, bấm Edit.Tick "VLAN aware". (Tuỳ chọn) đặt "VLAN IDs" = 2-4094 để cho phép toàn dải.
Bấm OK, sau đó bấm "Apply Configuration" để áp dụng.
Hình 2: Cửa sổ Edit bridge với ô "VLAN aware" được bật.
Kiểm tra sau khi áp dụng:
grep -A6 vmbr0 /etc/network/interfaces
bridge vlan show # xem VLAN trên các cổng bridge
Xác nhận bridge đã ở chế độ VLAN-aware.
2.3 Gán VLAN cho VM và kiểm tra
Chọn một VM, vào Hardware > Network Device > Edit, đặt Bridge = vmbr1 và VLAN Tag = 3194 (ví dụ). Trong guest, đặt IP thuộc dải của VLAN 3191 rồi kiểm tra ping.
Hình 3: Card mạng VM gắn vmbr0 với VLAN Tag 3194.
Trong VM (VLAN 3194): ping gateway của VLAN 3194:
Ping giữa hai VM cùng đặt VLAN Tag 3194 - phải thông.
Đổi một VM sang VLAN Tag 3197 - hai VM khác VLAN không ping được nhau (đúng kỳ vọng nếu chưa định tuyến liên VLAN).
2.4 Tạo VLAN interface cho host (tách riêng đường mạng)
Nếu muốn host có IP trong một VLAN riêng (ví dụ VLAN 3150 cho migration), tạo interface VLAN trên nền vmbr0 (VLAN-aware).Node > System > Network > Create > "Linux VLAN".
Name: vmbr0.3150; đặt IP, ví dụ 10.30.150.10/24.
OK > Apply Configuration.
Hình 4: Tạo interface vmbr0.3150 với IP thuộc VLAN 3150.
2.5 Tạo Bond gộp NIC (khi có >= 2 NIC)
Phần này áp dụng khi node có từ hai NIC trở lên. Ta tạo bond0 rồi đặt bond0 làm bridge-port của vmbr0. Bắt đầu bằng active-backup vì không cần cấu hình switch.Đảm bảo các NIC dự định gộp không còn là bridge-port của vmbr (gỡ các NIC khỏi vmbr trước).
Node > System > Network > Create > "Linux Bond".
Slaves: chọn 2 NIC (ens160 nic0), Mode: active-backup, để trống IP.
Hình 5: Tạo bond0 chế độ active-backup với hai NIC slave.
Sửa vmbr0: đặt "Bridge ports" = bond0 (thay cho NIC cũ).
Hình 6: Sơ đồ: bond0 (gồm 2 NIC) là bridge-port của vmbr0.
Apply Configuration (nên làm khi có console dự phòng).
Nâng cấp lên LACP (mode 4) khi switch đã bật port-channel: sửa bond0, Mode = LACP (802.3ad), Hash policy = layer2+3. Cấu hình phía switch phải khớp.
# Kiểm tra trạng thái bond
cat /proc/net/bonding/bond0
# Trường cần xem: Bonding Mode, MII Status: up, các Slave up
Xác minh bond hoạt động và các slave đều up.
3. Kết luận
Các kiến thức đã nắm sau bài lab: hiểu tác dụng của VLAN-aware cho bridge, gán VLAN cho VM, tạo VLAN interface cho host và gộp NIC bằng bond. Đây là những thao tác làm quen từ đó phục vụ cho hầu hết các thiết kế cụm cho phần nâng cao sau này (Cluster, Ceph, HA - nơi việc tách traffic bằng VLAN/bond là bắt buộc).Đính kèm
Bài viết liên quan
Bài viết mới